Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Phương pháp triệt sản nam và triệt sản nữ

Chọn một phương pháp ngừa thai, chúng ta phải quyết định phương pháp nào là tốt nhất. Với mỗi phương pháp, chúng ta cần phải hiểu, tính hiệu quả của nó, cách sử dụng đúng nhất, nó phù hợp với lối sống hay không, khi dùng phương pháp đó thì chúng ta có thấy thoải mái hay không. Chúng ta phải có hai tiêu chuẩn quan trọng: hiệu quả ngừa thai cao và an toàn. An toàn ở đây là an toàn cho người sử dụng và an toàn ngay cả khi phương pháp đó thất bại phải xử trí bằng: phá thai, sinh đẻ trong tình huống đó, an toàn khi mang thai.

Phần lớn người ngừa thai là phụ nữ. Với phương pháp triệt sản, phụ nữ cũng chiếm đa số vì trong lúc quan hệ tình dục, đàn ông muốn được tự nhiên với cái bản lĩnh của mình. Nhưng hiện nay đàn ông đã tham gia chia sẻ trách nhiệm ngừa thai với phụ nữ. Triệt sản là phương pháp phổ biến ở nhiều nước. Người chọn phương pháp này đa số trên 30 tuổi.

Triệt sản là phương pháp ngừa thai vĩnh viễn, tuy nhiên chúng ta có thể khôi phục được bằng cách nối lại ống dẫn tinh hoặc nối lại vòi trứng. Triệt sản có hiệu quả tránh thai cao.

Triệt sản nam và triệt sản nữ

Triệt sản nữ: phương pháp thắt ống dẫn trứng

Làm nghẽn ống dẫn trứng để ngăn tinh trùng và trứng gặp nhau bằng cách cột và cắt rời vòi trứng. Là phương pháp ngừa thai vĩnh viễn, có tính an toàn.

Chỉ định cho phụ nữ trên 30 tuổi với đủ số con khỏe mạnh. Con nhỏ nhất phải trên 3 tuổi. Cặp vợ chồng không muốn có con thêm. Quan hệ vợ chồng bền vững.

Một số chỉ định triệt sản:

- Bệnh lý:

Suy tim.

Suy hô hấp.

Bệnh thận mạn.

Bệnh thần kinh.

Bệnh tâm thần.

Mộ số bệnh ung thư.

Bệnh di truyền.

Bệnh huyết học.

- Nhà đông con và kinh tế khó khăn.

- Quốc gia có dân số đông, triệt sản thể hiện trách nhiệm để giảm gánh nặng cho đất nước.

- Sản phụ khoa: mổ bắt con nhiều lần, sa tử cung, u xơ tử cung.

Thời điểm triệt sản nữ tốt nhất là lúc mổ lấy thai.

Nếu sinh thường thì trong thời gian hậu sản 6 giờ sau sinh nhưng không quá 48 giờ. Nếu khi sinh có biến cố, ối vỡ, sốt, nguy cơ nhiễm trùng từ cung thì trì hoãn 8 tuần sau triệt sản.

Khi không mang thai, triệt sản ngay say khi sạch kinh. Tiến hành qua nội soi ổ bụng. Người bệnh trở về công việc sau vài ngày.

Phương pháp mới nhất không cần qua ổ bụng là The Essure với thời gian hồi phục và ít biến chứng so với phương pháp cổ điển.

Ưu điểm của phương pháp thắt ống dẫn trứng:

Lúc đầu phương pháp này chi phí cao hơn các phương pháp ngừa thai khác. Mười năm sau người ta tính chi phí- hiệu quả của triệt sản nữ thì người ta thấy nó ngang bằng với các phương pháp ngừa thai khác. Một số nghiên cứu cho thấy thắt ông dẫn trứng làm giảm nguy cơ ung thư buồng trứng.

Phương pháp này làm cho trứng và tinh trùng không gặp nhau, sẽ có hiệu quả ngừa thai 100%. Tuy nhiên tỉ lệ nhỏ thất bại (0.1 - 0.4%).

Tại sao?

Có vài lý do: kỹ thuật tiến hành không đúng; do hai đầu của ống dẫn trứng tự thông nối lại.

Nếu không có các lý do trên thì thắt vòi trứng có hiệu quả gần 100% tương đương phương pháp kiêng giao hợp

Khuyết điểm của phương pháp thắt ống dẫn trứng:

- Có báo cáo cho thấy hội chứng triệt sản sau thắt ống dẫn trứng (chảy máu bất thường, thay đổi hành vi tình dục, thay đổi cảm xúc, khó chịu trước khi hành kinh xảy ra ở phụ nữ trên 30 tuổi. Với phụ nữ 20 - 29 tuổi có tiền sử rối loạn kinh nguyệt có nguy cơ cao mắc hội chứng này.

- Phương pháp này có tính vĩnh viễn(có nghĩa là cặp vợ chồng không còn quan tâm về vấn đề sử dụng phương pháp ngừa thai). Một số cặp vợ chồng hối tiếc về quyết định triệt sản và muốn có khả năng sinh sản trở lại. Ở Hoa Kỳ, thắt ống dẫn trứng có chi phí 1.500 - 2.000 usd. Được bảo hiểm y tế trả.

Triệt sản nam: thắt ống dẫn tinh

- Là thủ thuật đợt giản, có thể làm tại phòng khám với gây tê. Thủ thuật an toàn, ít xâm hại, ít tốn thời gian, rẻ tiền hơn so với thắt ống dẫn trứng. Ở Hoa Kỳ chi phí thắt ống dẫn tình là 350 usd đến 1.000 usd. Được bảo hiểm y tế trả.

- Tiến hành thủ thuật bằng một đường nhỏ ở bìu, kéo một đoạn ống dẫn tinh ra, kẹp, cắt rời, rồi cột hoặc đốt hai đầu. Thắt ống dẫn tinh làm cho tinh trùng không thể di chuyển từ tinh hoàn về túi tinh. Thủ thuật này không ảnh hưởng đến chức năng tình dục và xuất tinh không thay đổi. Tinh dịch phóng ra chủ yếu là dịch của tuyến tiền liệt và túi tinh. Sau khi thắt ống dẫn tinh thành công, người đàn ông vẫn có cực khoái và phóng tinh như trước nhưng tinh dịch không có tinh trùng. Thủ thuật ít có biến chứng.

Vì khi thắt ống dẫn tinh, bác sĩ phải dùng dụng cụ, dao kéo, điều này có thể gây ám ảnh cho một số người. Đó chỉ là cảm nhận, họ muốn có kỹ thuật không dùng dao. Kỹ thuật này chỉ dùng dụng cụ bấm vào ống dẫn tinh, không dùng chỉ khâu. Biến chứng ít gặp hơn so với phương pháp cổ điển.

Chống chỉ định bao gồm: rối loạn đông máu, dãn tĩnh mạch thừng tinh, tràn dịch tinh mạc, thoát vị bẹn, viêm vùng bẹn bìu, các bất thường ở thừng tinh.

Ưu điểm và khuyết điểm của thắt ống dẫn tinh:

Phương pháp này làm cho trứng và tinh trùng không gặp nhau, sẽ có hiệu quả ngừa thai 100%. Tuy nhiên tỉ lệ nhỏ thất bại (0.1 - 0.4%).

Tại sao?

Có vài lý do: kỹ thuật tiến hành không đúng; do hai đầu của ống dẫn tinh tự thông nối lại; tinh trùng còn sót lại trong đường sinh dục nam sau khi thắt ống dẫn tinh.

Để tránh mang thai do tinh trùng còn sót lại trong đường sinh dục nam, người ta khuyên: sau 3 tháng thắt ống dẫn tinh, người đàn ông phải có hai lần thử tinh dịch đồ cách nhau 1/2 tháng. Trong khoảng thời gian 3 tháng, cặp vợ chồng phải sử dụng phương pháp ngừa thai khác.

Nếu không có các lý do trên thì thắt ống dẫn tinh có hiệu quả 100% tương đương phương pháp kiêng giao hợp.

Một số than đau tức bìu do áp lực trong tinh hoàn và mào tinh hoàn tăng cao. Đôi khi có hiện tượng vỡ mào tinh làm cho tinh trùng tiếp xúc với máu, tạo kháng thể kháng tinh trùng, cuối cùng là teo tinh hoàn hai bên. Có nghiên cứu cho thấy tinh trùng đi vào hạch bạch huyết xung quanh thận. Người thắt ống dẫn tinh thỉnh thoảng bị rối loạn tình dục do tâm lý.

Phương pháp này có tính vĩnh viễn (có nghĩa là cặp vợ chồng không còn quan tâm về vấn đề sử dụng phương pháp ngừa thai). Một số cặp vợ chồng hối tiếc về quyết định triệt sản và muốn có khả năng sinh sản trở lại. Lý do để hối tiếc là: họ muốn thêm con; họ lydị và kết hôn lại; con chết. Hối tiếc thường gặp ở cặp vợ chồng triệt sản lúc còn trẻ.

BS. NGUYỄN VĂN HỌC

Viêm âm đạo

Dịch tiết âm đạo bao gồm: dịch tiết từ lòng tử cung, cổ tử cung và các tuyến vùng âm hộ, các tế bào bề mặt bị bong tróc của biểu mô âm đạo, phần dịch thẩm thấu từ các lớp phía dưới biểu mô lát niêm mạc âm đạo.

Viêm âm đạo - Hiểu biết đúng để phòng ngừa 1

Thành phần của dịch tiết âm đạo phụ thuộc nhiều vào tình trạng nội tiết sinh dục. Môi trường âm đạo không phải là môi trường vô khuẩn, trái lại, trung bình có khoảng 6 loại vi khuẩn khác nhau, với đa số là vi khuẩn kỵ khí, trong đó đáng kể là nhóm Lactobacili. Trong quá trình chuyển hóa, nhóm vi khuẩn này sử dụng glycogen của lớp tế bào bề mặt âm đạo tạo thành acid lactic và tạo nên môi trường acid cho âm đạo. Đồng thời, chủng vi khuẩn này còn tạo ra H2O2, là một tác nhân diệt khuẩn và làm tăng độ acid của âm đạo. Các chủng vi khuẩn trong âm đạo sống chung một cách hòa bình và không gây tác hại cho âm đạo. Khi mối cân bằng giữa các nhóm vi khuẩn bị phá vỡ, viêm nhiễm âm đạo sẽ dễ xảy ra.

Viêm âm đạo là bệnh phổ biến và rất hay gặp đối với phụ nữ, nhất là những phụ nữ đã có quan hệ tình dục. Tình trạng bệnh có thể nhẹ, có thể tự chẩn đoán, tự điều trị, tự khỏi nhưng cũng có thể nặng, có thể có những biến chứng xấu như ung thư tử cung, vô sinh... Trong các nguyên nhân, viêm âm đạo do nấm Candida (albican hay non-albican), trùng roi Trichomonas vaginalis và tạp khuẩn (bacterial vaginosis) là nguyên nhân thường gặp nhất, có thể đạt 90% các trường hợp viêm âm đạo.

Như trên đã nói môi trường âm đạo không phải là môi trường vô khuẩn, vì vậy viêm âm đạo thường xảy ra khi vi khuẩn thường trú âm đạo bị biến đổi do tác nhân bên ngoài đưa vào (nhiễm vi sinh từ ngoài) hay do thay đổi môi trường âm đạo, tạo điều kiện thuận lợi cho tác nhân gây bệnh hoạt động.

Ngoài ra, viêm âm đạo còn do sử dụng các thuốc điều trị bệnh như kháng sinh, thuốc nội tiết; hay do chưa biết cách thụt rửa âm đạo, dùng dụng cụ tránh thai, đang có thai... Khi bạn thấy các triệu chứng ngứa, đau mỗi khi giao hợp, khí hư có màu, mùi bất thường, âm đạo chảy máu... thì hãy tới bác sĩ sản khoa để được tư vấn làm xét nghiệm. Phải tuân thủ theo chỉ dẫn, cách dùng thuốc của bác sĩ, không nên để âm đạo bị viêm kéo dài, mắc đi mắc lại nhiều lần vì rất có thể bạn gặp các biến chứng khôn lường và ảnh hưởng tới chuyện chăn gối.

BS. Thu Phương

15 lời khuyên giúp dự phòng ung thư vú

Cho con bú giúp mẹ giảm nguy cơ ung thư vú

Cho con bú giúp mẹ giảm nguy cơ ung thư vú

Ung thư vú là loại ung thư thường gặp nhất và gây tử vong hàng đầu ở phụ nữ nhiều nước công nghiệp. Đây là một bệnh hết sức phức tạp mà trong nhiều năm qua đã có nhiều nghiên cứu về nguyên nhân và điều trị. Tuy nhiên, cần phải phát hiện sớm ung thư vú qua sự tầm soát ở những phụ nữ bình thường. Ở Pháp cứ 10 phụ nữ có 1 phụ nữ mắc ung thư vú nhưng may mắn thay có những phương cách giúp dự phòng bệnh như chế độ ăn uống lành mạnh, luyện tập... Sau đây là 15 lời khuyên giúp dự phòng ung thư vú:

ăn nhiều rau xanh phòng ung thư vú

1. Ăn nhiều rau xanh

Các nhà nghiên cứu ở Thụy Điển tiến hành khảo sát 5842 phụ nữ cho thấy việc tiêu thụ nhiều rau xanh (bắp cải xanh, bông cải xanh, bắp cải Brussels…) giảm 20-40% tỷ lệ mắc ung thư vú vì trong rau cải giàu glucosinolate. Nghiên cứu ở Mỹ năm 2009 cho thấy sulforaphane (họ của glucosinolate) có thể ức chế sự gia tăng tế bào và ngăn ngừa hình thành khối u ngay cả u vú. Một nghiên cứu khác trên súc vật thí nghiệm cho thấy Indole-3-carbinol (dạng của glucosinolate) có khả năng “tự hủy” khối u ở vú.

2. Tránh những chất tẩy, thuốc trừ sâu

Các chất tẩy rửa, thuốc trừ sâu, sơn…thường chứa PCB, organochlorés, dung môi hữu cơ làm rối loạn hoạt động nội tiết ở vú do tăng tổng hợp estrogen. Hoạt động quá mức các hormon sẽ kích thích phân chia tế bào. Theo Giáo sư Henri Joyeux-chuyên ngành Ung thư và Tiến sĩ Bérengère Arnal-Schnébelen- chuyên ngành Sản Phụ khoa thì nguy cơ mắc ung thư vú tăng lên 1,4-2,4 lần sau khoảng 15 năm tiếp xúc với các dung môi hữu cơ gây ung thư. Ngoài ra tiếp xúc với amiante, sợi thủy tinh, nguy cơ ung thư vú tăng 1,3 lần trong thời kỳ tiền mãn kinh.

3. Giảm một số chất béo

Thực phẩm “công nghiệp” như bánh ngọt, bánh pizza… chứa nhiều chất béo “xấu” được gọi “trans” hoặc “hydrogénées" làm tăng nguy cơ ung thư vú. Một nghiên cứu của Inserm và Viện Gustave Roussy năm 2008 cho thấy tỷ lệ mắc ung thư vú tăng gần như gấp đôi ở những phụ nữ có lượng acid béo “trans” tăng cao trong máu. Vì vậy nên hạn chế lượng acid béo bão hòa như mỡ động vật, thịt xông khói, bơ…

4. Tiêu thụ nhiều chất xơ

Một nghiên cứu ở Mỹ tiến hành khảo sát 83.234 phụ nữ cho thấy ở những phụ nữ giai đoạn tiền mãn kinh nếu tiêu thụ ít nhất 5 loại hoa quả và rau xanh mỗi ngày thì nguy cơ mắc ung thư vú giảm 23%. Điều này cho thấy trong trái cây và rau quả rất giàu chất xơ, chất khoáng, acid folic, lycopen. Những thực phẩm giàu chất xơ như mận, chà là, đậu lăng…những thực phẩm giàu acid folic như cải xoong, rau bina, măng tây…và những thực phẩm giàu lycopen như cà chua, dưa hấu, bưởi hồng…

Theo dõi cân nặng

5. Theo dõi cân nặng

Thời kỳ mãn kinh, nếu tăng khoảng 10% trọng lượng cơ thể thì tăng nguy cơ mắc ung thư vú từ 30-50%. Lượng đường và mỡ tăng cao trong vú sẽ hình thành “tuyến nội tiết âm tính” và từ đó sản sinh các hormon gây ung thư. Nghiên cứu ở Mỹ cho thấy, sau 10 năm tỷ lệ sống ở bệnh nhân ung thư vú bị béo phì là 40%, trong khi đó không béo phì là 54%.

6. Lưu ý việc điều trị bằng hormon ở giai đoạn mãn kinh

Việc điều trị bằng liệu pháp thay thế hormon trong thời kỳ mãn kinh làm tăng nguy cơ mắc ung thư vú do lượng hormon estrogen “bổ sung” đã kích thích sự phân chia tế bào vú. Nghiên cứu ở Mỹ năm 2009 cho thấy nguy cơ ung thư vú giảm có ý nghĩa khi ngừng điều trị hormon.

Giá đỗ giàu phyto-estrogen

Giá đỗ giàu phyto-estrogen

7. Tăng thêm thực phẩm giàu phyto-oestrogènes!

Đậu nành, hạt lanh…là những thực phẩm giàu phyto-oestrogènes. Giúp giảm lượng estrogen khi nó ở mức cao, ngăn cản sự kích thích quá mức phát triển của tuyến vú vì vậy giảm nguy cơ mắc ung thư vú. Một nghiên cứu ở Mỹ cho thấy những phụ nữ tiêu thụ nhiều đậu nành thì nguy cơ mắc ung thư vú giảm 23-47%. Không nên dùng phyto-oestrogènes ở những phụ nữ đã mắc ung thư vú hoặc có người trong gia đình mắc ung thư vú; tốt nhất nên tư vấn ý kiến của Bác sĩ.

8. Lưu ý một số loại thuốc

Theo Giáo sư Hervé Gautier-chuyên ngành ung thư cho biết việc dùng một số loại thuốc (thuốc chống trầm cảm, lợi tiểu) làm tăng nguy cơ mắc ung thư vú, tuy nhiên cần xem xét thận trọng vì có thể còn có sự kết hợp với các yếu tố nguy cơ khác gây nên sự tăng trưởng của những tế bào bất thường- theo Giáo sư Henri Joyeux.

9. Nên cảnh giác với các chất khử mùi?

Aluminium, parabens là hai hóa chất được tìm thấy trong phần lớn các chất khử mùi. Các chất này làm rối loạn hoạt động hormon và tăng nguy cơ mắc ung thư vú (đặc biệt sau cạo râu hoặc tẩy lông). Tuy nhiên vẫn chưa có bằng chứng khoa học nào cho thấy mối liên quan giữa chất khử mùi và ung thư vú, tốt nhất nên cẩn thận!

10. Cẩn thận với thức uống có cồn

Theo Giáo sư Hervé Gautier, việc tiêu thụ nhiều thức uống có cồn làm tăng nguy cơ mắc ung thư vú vì lượng cồn tăng cao sẽ tăng kích thích sản xuất estrogen, tạo thuận lợi cho sự phân chia tế bào. Thêm vào đó, alcool khi vào cơ thể sẽ chuyển hóa thành acétaldéhyde, được biết như một chất gây ung thư.

10 g alcool tương đương với 10 cl rượu 12°, 25 cl bia 5°, 3 cl rượu whisky 40°, 3 cl rượu pastis 45°, 10 cl rượu champagne 12°.

11. Bỏ thuốc lá

Theo Giáo sư Henri Joyeux và Tiến sĩ Bérengère Arnal-Schnébelen thì những phụ nữ hút thuốc, tăng 30% nguy cơ mắc ung thư vú, đặc biệt hút trước tuổi 20 và ít nhất 20 điếu mỗi ngày. Theo Giáo sư Hervé Gautier thì những tác hại của thuốc lá đối ung thư vú càng rõ ràng khi kèm uống rượu. Theo nghiên cứu ở Mỹ năm 2008 thì Nicotin thúc đẩy phát triển khối u ở vú và di căn.

12. Tập thể dục

Theo Giáo sư Hervé Gautier ở những người nhàn rỗi có nguy cơ ung thư vú cao hơn, lý do là khi tập thể dục giúp giảm lượng estrogen và chất béo. Điều này giảm nguy cơ mắc ung thư vú từ 20-40% so với người không hoạt động. Luyện tập tối thiểu 30 phút mỗi ngày, 5 ngày trong tuần sẽ giảm 25% nguy cơ mắc ung thư vú.

13. Kiểm tra sức khỏe định kỳ

Theo Trung tâm phòng chống Ung thư-Pháp thì cách đây 20 năm, tỷ lệ sống sót trung bình của những phụ nữ mắc ung thư vú là dưới 50% nhưng bây giờ là 90% nếu được phát hiện sớm. Tốt nhất nên siêu âm vú ở phụ nữ độ tuổi 50-74, 2 năm một lần.

14. Nuôi con bằng sữa mẹ

Theo Viện Nghiên cứu Ung thư Hoa Kỳ và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), nuôi con bằng sữa mẹ trong ít nhất 6 tháng đầu đời không chỉ giúp trẻ phát triển toàn diện, khỏe mạnh mà còn là một trong những biện pháp hữu hiệu giúp giảm nguy cơ ung thư vú, lý do khi cho con bú sẽ giúp “di tản” các chất gây ung thư có trong tế bào vú.

15. Nên sinh con đầu lòng trước tuổi 30

Sinh con đầu lòng trước tuổi 30, càng có ít nguy cơ mắc ung thư vú. Theo Giáo sư Henri Joyeux thì một thai kỳ sớm sẽ làm gia tăng đáng kể một lượng oestriol-một hormon giúp giảm 50-70% nguy cơ mắc ung thư vú sau này và sau mỗi lần sinh cũng giảm được nguy cơ mắc ung thư vú do sau khi sinh và cho con bú, tuyến vú ít nhạy cảm hơn với các chất gây ung thư.

Bs Ái Thủy

(theo Medisite.fr)

Vượt qua các chứng bệnh thường gặp khi bầu bí

Khi mang thai là lúc cơ thể phụ nữ có nhiều thay đổi, vì vậy, một số bệnh cũng dễ “hỏi thăm” và gây nhiều phiền toái. Bài viết dưới đây sẽ giúp bà bầu vượt qua các chứng bệnh thường gặp để luôn khỏe mạnh trong thai kỳ.

Buồn nôn

Chứng buồn nôn khi thai nghén (khoảng 3 tháng đầu) thì gần như chị em nào cũng trải qua ở các mức độ khác nhau. Chứng buồn nôn sẽ là bình thường nếu như nó ở mức độ chấp nhận được: thai phụ chỉ buồn nôn ở thời điểm nào đó như lúc sáng sớm, khi đói hoặc no quá và không nôn hết thức ăn vừa dung nạp. Qua 3 tháng thai nghén, chứng nôn sẽ hết dần. Nhưng chứng buồn nôn và nôn cần được can thiệp bằng các giải pháp khi: thai phụ buồn nôn liên tục trong suốt quá trình mang thai. Buồn nôn bất cứ lúc nào và giữ lại được rất ít thức ăn vừa ăn. Nặng hơn nữa, nhiều chị em không thể làm được việc gì vì chứng buồn nôn hành hạ. Buồn nôn và nôn (chứng nôn nghén) nghiêm trọng có liên quan đến giảm cân, mất nước cùng rối loạn điện giải và có thể phải nhập viện.

Có khoảng 50% bà bầu bị đau lưng trong quá trình mang thai.

Nguyên nhân gây buồn nôn và nôn trong thai kỳ không rõ ràng, có thể do nhiều yếu tố. Sự gia tăng các hormon estrogen và progesteron trong thời gian thai kỳ được xem là một yếu tố gây ra chứng nôn ở thai phụ. Ngoài ra, tác dụng phụ của một số loại thuốc (thuốc bổ sung vitamin, sắt hàm lượng cao…), tình trạng bệnh lý của thai phụ (viêm loét đường tiêu hóa), một số mùi thức ăn gây khó chịu... cũng là những yếu tố thuận lợi khiến thai phụ bị nôn. Thai phụ có thể được trấn an rằng buồn nôn và nôn nhẹ đến trung bình sẽ không ảnh hưởng đến sự phát triển của bé. Tuy nhiên, tình trạng không ngừng nôn và buồn nôn trong nhiều tháng sẽ làm thai phụ suy nhược, mệt mỏi và ảnh hưởng sự phát triển thai nhi khi lượng thức ăn cung cấp không đủ.

Thai phụ nên làm gì khi bị nôn?

Không vì sợ nôn mà để bụng đói, hãy chia thành những bữa ăn nhỏ và uống ít nước thường xuyên. Buổi sáng thức dậy nên ăn ít bánh ngọt khoảng 15 - 20 phút trước khi đứng dậy. Cần nghỉ ngơi, thư giãn. Nên uống các thuốc bổ sung vitamin, sắt sau bữa ăn và nên dùng với hàm lượng thấp. Tránh dùng các thức ăn có mùi khó chịu… Cần đến gặp bác sĩ nếu tình trạng nôn nghiêm trọng và kéo dài, sụt cân, có dấu hiệu mất nước (khô mũi, khô môi, nước tiểu vàng đậm).

Hoa mắt, chóng mặt

Nguyên nhân chính của hiện tượng này là do sự tăng lên của hormon và sự giãn mở rộng thành mạch máu để cung cấp máu cho thai nhi. Khi huyết áp thấp hơn bình thường sẽ giảm lượng máu lưu thông tới não bộ và gây ra chứng hoa mắt, chóng mặt. Sự lớn lên của thai nhi sẽ tạo áp lực lên thành mạch, cũng là nguyên nhân gây ra chứng hoa mắt, chóng mặt cho bà bầu. Nếu bà bầu nào lại thường xuyên nằm ngửa thì hiện tượng này càng kéo dài hơn vì trọng lượng cơ thể của bé sẽ đặt hẳn lên thành mạch máu. Những phụ nữ bị thiếu máu hoặc bị giãn tĩnh mạch sẽ gặp tình trạng hoa mắt chóng mặt nhiều hơn những người bình thường. Khi ăn không đủ hoặc bị nôn quá nhiều, bà bầu có thể bị hạ đường huyết khiến bị hoa mắt, thậm chí là ngất. Thiếu nước có thể cũng gây nên ảnh hưởng tương tự. Nhiều thai phụ cảm thấy choáng váng khi bị ho, đi tiểu hoặc đi tiêu. Những tác động này có thể khiến bạn bị hạ huyết áp dẫn tới hoa mắt.

Để đối phó với tình trạng hoa mắt chóng mặt khi mang thai, bà bầu cần tránh tư thế đứng khi bạn vừa rời khỏi giường hoặc một chiếc ghế. Nếu nằm, bạn nên trở dậy từ từ. Sau đó, bạn nên đứng im một chỗ trong vòng ít phút. Bạn nên uống đủ nước mỗi ngày, duy trì những bữa ăn nhỏ bên cạnh 3 bữa chính. Tuyệt đối không nên để cơ thể bị đói lả. Tránh tắm hơi khi mang thai. Bà bầu nên tránh nằm ngửa (bởi lúc này bào thai đã chèn lên các mạch máu lớn của mẹ, tạm thời ngăn cản hệ tuần hoàn). Điều này không chỉ gây hoa mắt, chóng mặt, xanh xao mà còn làm giảm cung cấp oxy cho bào thai, dù chỉ là tạm thời.

Hiện tượng chuột rút khi bầu bí

Khi mang thai, chị em dễ bị chuột rút khiến các bắp thịt co thắt đột ngột gây đau nhức và khó di chuyển. Chuột rút thường xảy ra vào quý 2 và quý 3 của thai kỳ, chủ yếu vào thời điểm ban đêm. Có nhiều nguyên nhân khiến bà bầu bị chuột rút, chủ yếu là do sự gia tăng trọng lượng cơ thể một cách đột ngột khiến các cơ chân phải vận động hết công suất để nâng đỡ cơ thể, từ đó gây mỏi cơ, căng cơ quá mức. Bà bầu thường bị ốm nghén, nôn ói vào những tháng đầu thai kỳ khiến cơ thể thiếu dinh dưỡng, mất nước, mất cân bằng điện giải... dẫn đến chứng co cứng cơ. Khi mang thai cũng là lúc nhu cầu canxi của cơ thể tăng cao, nếu không được đáp ứng đầy đủ thì cơ thể mẹ có xu hướng tự "rút" canxi để truyền cho bé và từ đó mẹ bầu dễ bị chuột rút.

Khi bị chuột rút thường xuyên, mẹ bầu nên bổ sung đầy đủ lượng canxi cần thiết từ thực phẩm giàu canxi như sữa, hải sản, rau lá xanh... Bà bầu cũng nên chú trọng vận động cơ thể thường xuyên với cường độ vừa phải, tránh tình trạng đứng hoặc ngồi một chỗ quá lâu sẽ khiến bị chuột rút nặng hơn. Hãy tranh thủ massage từ đùi đến bắp chân, các ngón chân, mắt cá... để máu được lưu thông tốt hơn. Khi bị chuột rút, bạn cần thực hiện vài động tác đơn giản để cắt đứt cơn đau như duỗi thẳng chân, xoa bóp các cơ bị co rút, kéo gót chân, cổ chân, ngón chân lại rồi hướng lên trên. Khi cơn đau đã hạ, bạn hãy đi bộ quanh nhà vài phút.

Đau lưng khi mang thai

Có khoảng 50% bà bầu bị đau lưng, nhiều nhất là 3 tháng giữa và 3 tháng cuối, thường xảy ra ở khớp cùng xương chậu nơi tiếp giáp với cột sống. Có nhiều lý do xảy ra đau lưng tại vị trí trên. Chứng đau lưng ở bà bầu có liên quan đến đau thần kinh tọa. Việc thay đổi nội tiết tố trong thai kỳ có thể làm nới lỏng các khớp và dây chằng nối với xương chậu, cột sống và gây đau. Khi mang bầu, cơ bụng trở nên yếu ớt và bị giãn mạnh do tác động từ sự phát triển của thai khiến cho vùng cơ lưng bị chèn ép gây đau lưng. Thai nhi càng phát triển, lưng mẹ phải cong về phía trước nhiều hơn và ngày càng mỏi hơn. Ngoài ra, tư thế đứng, di chuyển hoặc nhấc đồ vật không đúng cách cũng có khả năng gây tổn thương đến các cơ chằng vùng lưng.

Để hạn chế đau lưng khi mang thai, bà bầu cần chịu khó vận động vừa sức, không ngồi một chỗ quá lâu, thay đổi tư thế khi nằm ngủ, không mang vác vật nặng...

BS. HẠNH NGUYỄN

Giải pháp chữa ngứa khi mang thai

Nguyễn Liên (Yên Bái)

Ngứa khi mang thai có rất nhiều nguyên nhân như: những biến đổi về sinh lý, có sự căng giãn da hay rạn da do thai lớn dần, nổi sẩn kèm theo tăng sắc tố. Tình trạng này thường được gọi là sẩn ngứa khi mang thai, các vị trí hay gặp nhất là vùng bụng, hai bầu vú do mô tuyến vú tăng sinh, cánh tay, mông, đùi thường do tích tụ mỡ, cẳng, bàn chân do sự đè ép của thai lên tĩnh mạch chủ dưới gây ứ trệ tuần hoàn chi dưới... Ngoài ra, đổ mồ hôi nhiều cũng làm xuất hiện rôm sảy, đặc biệt ở những vùng kẽ, nếp gấp da như dưới vú, háng, cổ, gáy, ngực, lưng...

ngứa khi mang thai

Đặc thù ngứa trong thai kỳ càng gãi thì càng ngứa, càng gãi thì kích thích gây tăng sừng, tăng sắc tố khiến vùng đó dày lên trở thành mạn tính rất khó điều trị, vì vậy, cho dù ngứa do nguyên nhân gì cũng không bao giờ được gãi. Bạn có thể giảm những triệu chứng khó chịu trên da bằng một số biện pháp như: mặc quần áo bằng vải thoáng mát, đủ rộng, tránh ra ngoài lúc trời nắng hay ở những nơi nóng bức, tắm với nước mát, không nên lạnh quá vì có trường hợp ngứa do lạnh tùy vào sự nhạy cảm nhiệt độ của mỗi người. Tránh dùng các loại xà phòng hay dung dịch tẩy rửa mạnh có nồng độ xút cao và các sản phẩm chăm sóc da vì dễ gây dị ứng.

Ngoài ra, bạn nên tránh các thức ăn gây dị ứng trước đó, chế độ ăn cần đủ chất, chú ý chọn các thực phẩm giàu vitamin A (dầu gan cá, gan, rau quả, trứng...), vitamin D có trong cá biển, các sản phẩm từ sữa… Uống đủ nước trong ngày, ít nhất 1,5-2 lít.

BS. Anh Vũ

Polyp cổ tử cung và nguy cơ ác tính

Đây là bệnh phụ khoa thường gặp ở phụ nữ trong độ tuổi từ 30 - 50. Đa số polyp cổ tử cung không có triệu chứng mà chỉ được phát hiện tình cờ khi khám phụ khoa định kỳ. Vậy, dấu hiệu nhận biết polyp cổ tử cung là gì, có nguy hiểm không?

Polyp cổ tử cung là khối u lành tính phát triển từ mô đệm cổ tử cung và được che phủ bởi biểu mô, xuất phát từ ống cổ tử cung, có chân hoặc không có chân, kích thước có thể thay đổi từ vài mm đến vài cm, thường gặp ở phụ nữ sinh đẻ nhiều lần. Người bệnh có polyp cổ tử cung thường không có triệu chứng nhưng cũng có thể ra khí hư nhiều, rong huyết, ra máu sau giao hợp. Polyp tử cung thường lành tính, nhưng khoảng 1% các ca có chuyển dạng ác tính. Phụ nữ trong độ tuổi từ 30 - 50 thường mắc, kích thước polyp cổ tử cung có thể nhỏ (bằng hạt gạo), cũng có khi rất lớn (đường kính có thể hơn 10cm). Polyp cổ tử cung thường có màu hồng, có đầu, mềm, khi chạm vào rất dễ chảy máu.

Hình ảnh polyp cổ tử cung.

Hình ảnh polyp cổ tử cung.

Polyp cổ tử cung do đâu?

Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, nguyên nhân gây polyp cổ tử cung hình thành là do cổ tử cung bị viêm nhiễm mạn tính, khiến niêm mạc cổ tử cung bị viêm, gây tăng sản. Nguyên nhân gây ra polyp cổ tử cung tuy chưa được làm rõ nhưng sự gia tăng quá mức estrogen được xem là yếu tố nguy cơ hàng đầu dẫn tới polyp cổ tử cung.

Dấu hiệu nhận biết

Mặc dù đã có rất nhiều người từng mắc phải bệnh lý này nhưng phần lớn đều phát hiện ra nó ở giai đoạn muộn bởi những triệu chứng thường không rõ ràng hoặc phát hiện tình cờ, tuy nhiên, nhiều quan điểm cho rằng các dấu hiệu sau đây chị em nên quan tâm:

Bệnh polyp cổ tử cung thường khiến kinh nguyệt không đều, quá ngắn hoặc quá dài, lượng máu nhiều và kéo dài số ngày hành kinh. Nếu không có cách khắc phục sẽ gây thiếu máu trầm trọng. Xuất hiện khí hư bất thường, âm đạo tiết ra nhiều khí hư màu sắc khác thường kèm mùi hôi tanh gây ngứa ngáy, khó chịu. Một số trường hợp xuất hiện những cơn đau bụng dưới dữ dội, nhất là những ngày hành kinh và khi giao hợp, cảm giác đó càng tăng lên rất nhiều. Người bệnh còn có biểu hiện tiểu buốt, tiểu gấp, tiểu nhiều lần nhưng lượng nước tiểu không nhiều, nếu kéo dài có thể gây bí tiểu.

Polyp tử cung có thể xuất hiện ở những phụ nữ sắp hoặc sau khi mãn kinh, những phụ nữ sau mãn kinh có thể chỉ cảm thấy xuất huyết âm đạo nhẹ.

Kéo theo nhiều bệnh lý khác

Nếu polyp nhỏ sẽ cản trở tinh trùng gặp trứng, còn nếu polyp phát triển lớn hơn có thể gây tắc cổ tử cung, bịt kín cổ tử cung gây nguy hiểm đến sức khỏe của chị em. Khi bị polyp cổ tử cung, khả năng thụ thai của người phụ nữ sẽ bị giảm đi đáng kể. Ở một góc độ nào đó khi phụ nữ bị mắc polyp tử cung có bị ảnh hưởng đến chất lượng đời sống tình dục: các triệu chứng của bệnh polyp cổ tử cung như khí hư ra nhiều, chảy máu âm đạo… có thể khiến lo lắng khi giao hợp, điều này cũng sẽ làm giảm sự hưng phấn.

Mặt khác, polyp cổ tử cung là một khối u lành tính, tuy nhiên, có thể gây ra nhiều bệnh lý khác: polyp tử cung có thể là nguyên nhân gây nên nhiều bệnh khác như lạc nội mạc tử cung, hội chứng buồng trứng đa nang… Đặc biệt, ở tỷ lệ nhỏ, polyp vẫn có thể là biểu hiện của ung thư trong tương lai bởi nó có thể phát triển từ các vị trí khác nhau của tử cung nếu không được phát hiện và điều trị sớm.

Phương pháp điều trị

Tùy thuộc vào từng người bệnh mà các bác sĩ sẽ chỉ định cụ thể, có trường hợp chỉ cần điều trị nội khoa. Tuy nhiên, với trường hợp cần điều trị ngoại khoa bằng phương pháp phẫu thuật cắt polyp và đốt chân polyp bằng điện. Nếu polyp có kích thước nhỏ, các bác sĩ có thể thực hiện xoắn polyp. Đây là một thủ thuật đơn giản, thực hiện nhanh chóng và không gây đau đớn cho người bệnh. Đối với một số trường hợp nghi ngờ, các bác sĩ sẽ gửi mẫu xét nghiệm để kiểm tra. Người bệnh có thể được điều trị bằng kháng sinh nếu polyp cho thấy có dấu hiệu của viêm nhiễm. Nếu polyp là ác tính (ung thư), việc điều trị sẽ phụ thuộc vào loại và giai đoạn của ung thư. Nếu polyp có kích thước quá to, bác sĩ có thể chỉ định cắt polyp và đốt chân polyp bằng điện để ngăn ngừa tái phát.

Vì polyp cổ tử cung có thể ảnh hưởng tới việc thụ thai ở phụ nữ nên việc khám sức khỏe định kỳ là việc rất cần thiết. Hoặc khi nhận thấy cơ thể xuất hiện các dấu hiệu nghi ngờ, nên tiến hành thăm khám để được bác sĩ chuyên khoa tư vấn phác đồ hỗ trợ điều trị phù hợp nhằm tránh các biến chứng nguy hiểm đến sức khỏe.

BS. Nguyễn Thúy Thu

Bà bầu và những bệnh dễ mắc phải

Mang thai là điều hạnh phúc của người phụ nữ. Cùng với những thay đổi về nội tiết trong lúc mang thai, thời kỳ này hệ miễn dịch của người phụ nữ kém đi rất nhiều. Hơn nữa, các yếu tố ô nhiễm môi trường và những thay đổi nhiệt độ bất thường lúc giao mùa khiến phụ nữ mang thai là đối tượng để virut và vi khuẩn tấn công. Dưới đây là một số bệnh mà bà bầu dễ mắc phải trong mùa đông.

Hen phế quản

Là bệnh thường xảy ra khi có thai. Trong thực tế gặp khoảng 7% phụ nữ ở độ tuổi sinh đẻ bị lên cơn hen, nhất là khi thời tiết thay đổi. Nếu bệnh được kiểm soát tốt thì không phải là nguy cơ nặng cho mẹ hoặc thai. Những trường hợp hen không được điều trị hiếm khi gây tử vong nhưng cũng có thể làm người mẹ có những biến chứng nghiêm trọng như tăng huyết áp (THA), nhiễm độc thai nghén và sinh non. Với thai nhi, những biến chứng có thể gặp khi người mẹ bị hen không được điều trị tốt là chậm phát triển trong tử cung, sinh non; nhẹ cân, ngạt khi sinh.

Viêm mũi dị ứng

Với người có cơ địa dị ứng, khi mang thai lại trở nên nhạy cảm hơn với các yếu tố dị nguyên, do vậy chứng viêm mũi cũng xảy ra thường xuyên hơn. Viêm mũi dị ứng ảnh hưởng đến khoảng 15- 20% phụ nữ trong độ tuổi mang thai và là rối loạn thường gặp nhất, gây khó chịu trong thời kỳ thai nghén. Khi tiếp xúc với dị nguyên, người bệnh sẽ hắt hơi, chảy mũi liên tục, ngứa mũi, nước mũi chảy ra ràn rụa hoặc nghẹt mũi, rất khó chịu.

Để phòng bệnh, trước hết, phụ nữ có thai cần tìm hiểu xem dị ứng nguyên là gì để phòng tránh. Cần giữ nhà cửa, môi trường sống luôn thoáng mát, sạch sẽ, không nuôi súc vật trong nhà. Tránh các loại thực phẩm dễ gây dị ứng như trứng, sữa, các loại thủy hải sản... Giữ ấm cơ thể khi trời trở lạnh hoặc nhiệt độ thay đổi đột ngột...

Bà bầu và những bệnh dễ mắc phải 1Bà bầu bị cúm cần được thăm khám cụ thể.

Bệnh cúm

Là bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp do virut gây ra. Bệnh cúm rất dễ lây qua các hạt bụi nước có chứa virut khi người bệnh ho, hắt hơi hay do tiếp xúc trực tiếp. Vì vậy, bà bầu dễ bị lây nhiễm cúm hơn và thường nặng hơn do giảm khả năng miễn dịch, vì thế cúm nguy hiểm hơn với phụ nữ mang thai: tỷ lệ tử vong tăng lên nhiều lần, diễn biến cũng có thể lâu hơn. Bệnh cúm còn gây nguy cơ với thai nhi, nhất là trong những tháng đầu của thai kỳ như sảy thai, thai chết lưu hoặc đẻ non trong những tháng cuối. Ngoài ra, cúm có thể còn dẫn đến những dị tật bẩm sinh hở hàm ếch ở thai nhi. Đặc biệt, trong 5 tháng đầu của thai kỳ, nếu người mẹ bị cúm thì não bộ của thai nhi rất dễ bị tổn thương. Tiêm vaccin phòng cúm trước khi mang thai là biện pháp phòng ngừa có hiệu quả. Tuyệt đối không được tự ý dùng thuốc khi có các biểu hiện của cúm mà cần được bác sĩ thăm khám và chỉ định cụ thể.

Mất ngủ

Mất ngủ là một triệu chứng thường thấy ở phụ nữ mang thai giai đoạn cuối. Mất ngủ không nguy hiểm cho bà bầu và sự phát triển của thai nhi nhưng nếu tình trạng này kéo dài thường xuyên với những chứng bệnh khác sẽ làm tăng cảm giác khó chịu cho bà bầu.

Để bà bầu ngủ ngon giấc cần chú ý tư thế ngủ. Có thể kê một chiếc gối cao để gối đầu khi ngủ hoặc ngủ trên võng, ghế đứng. Các chuyên gia khuyên rằng, bà bầu nên nằm ghé sang bên trái để ngủ, tư thế ngủ này sẽ giúp lượng máu đến nhau thai tốt nhất. Trong trường hợp bụng bầu quá cỡ, bạn nên chèn một chiếc gối mềm ở phần bụng hoặc mua những chiếc gối chuyên dùng cho bà bầu. Tư thế ngủ thoải mái sẽ giúp cả mẹ và bé đều thoải mái, dễ có giấc ngủ ngon hơn. Khi mang thai, bà bầu không nên dùng đồ uống có ga hay chất kích thích như trà, cà phê vào buổi tối. Tránh xem phim hay các chương trình dễ gây cao hứng trước khi đi ngủ. Cần giữ tâm thật an và tinh thần thật thoải mái để có giấc ngủ ngon.

Bệnh về da

Khi có thai, những thay đổi nội tiết trong cơ thể khiến phụ nữ thường phải đối mặt với các vấn đề về da như: nám da, vàng da, ngứa, rạn nứt da.

Khi mang bầu, do da bị kéo giãn quá mức, độ đàn hồi trên da không đáp ứng được, các sợi chun giãn dưới da bị đứt dẫn đến các đường rạn nứt. Những đường rạn nứt có chủ yếu ở bụng, vú, hông, đùi hay mông. Đám rạn da có thể tạo thành một vùng rộng và gây ngứa, lúc này càng gãi thì đường rạn càng lộ rõ hơn.

Có thể phòng ngừa sự xuất hiện các vết rạn nứt bằng cách dùng kem dưỡng da dành cho bà bầu (kem chống rạn da). Đồng thời cung cấp đủ nước cho da là điều hết sức cần thiết vì da càng được cung cấp nước và thư giãn thì càng mềm mại và dễ co giãn, ít bị kéo giãn da sẽ ít bị rạn nứt.

Hiện tượng vàng da thường gặp ở một số phụ nữ mang thai vào 3 tháng cuối. Một vài chị em vừa bị vàng da vừa ngứa da nhưng hầu hết không có dấu hiệu bị đau. Hiện tượng vàng da thường tự biến mất trong khoảng 15 ngày sau sinh. Nếu vàng da xảy ra mỗi lần có thai hoặc thứ phát do bất thường về enzym thì có thể có nguồn gốc gia đình, trong trường hợp này thai có nguy cơ sinh non.

Bệnh trĩ và táo bón

Ăn ít chất xơ, ít uống nước, ít vận động khi mang thai và sử dụng nhiều chất bổ dưỡng, các loại thuốc và thực phẩm chứa sắt thường gây nóng cho cơ thể. Đây cũng là nguyên gây ra táo bón ở bà bầu.

Khi bị táo bón, nhiều thai phụ dễ bị ức chế, có cảm giác mệt mỏi, khó chịu, hay cáu gắt, thậm chí chán ăn... Điều này nếu kéo dài có thể khiến cơ thể mẹ bị thiếu chất dinh dưỡng, thai nhi không được nuôi dưỡng đầy đủ dẫn đến chậm phát triển, dễ mắc các khuyết tật, sau khi sinh sẽ có sức đề kháng kém...

Hơn nữa, táo bón lâu ngày là nguyên nhân có thể gây ra bệnh trĩ.

Ngoài ra, theo thời gian, bào thai phát triển sẽ khiến tĩnh mạch ở tầng sinh môn và đáy chậu thai phụ bị chèn ép là nguyên nhân hình thành trĩ. Người đã bị trĩ thì bệnh sẽ nặng hơn khi mang thai và sau sinh do khi sinh, tăng áp lực khoang chậu, tụ máu sưng phù tĩnh mạch ở phần hậu môn hoặc việc rặn sinh làm tăng áp lực lên ổ bụng cũng khiến búi trĩ dễ sa ra ngoài.

Để phòng hai chứng bệnh này, khi có thai, thai phụ càng nên uống nhiều nước, ăn nhiều thức ăn có chất xơ như rau củ quả. Hạn chế thức ăn nóng nhiệt, không nên ăn nhiều muối, đường. Đặc biệt không sử dụng thức ăn có chất kích thích.

BS. Hà Thanh